Thực hiện Kết luận số 224-KL/TW và Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ngày 13/02/2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh đã ban hành Kế hoạch số 21-KH/TU, xác định các nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hoá, phát triển đô thị bền vững đảm bảo tối ưu việc sắp xếp không gian phát triển phù hợp sau khi sáp nhập tỉnh và mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đảm bảo việc kết nối đô thị với nông thôn, giữa các đô thị với nhau, kết nối đô thị với hệ thống hạ tầng giao thông chiến lược (sân bay, đường cao tốc, đường sắt, đường thuỷ...), kết nối với khu vực Vùng Thủ đô và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, bảo đảm phát triển hài hòa, tương đồng giữa các khu vực, địa phương. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội được đầu tư đồng bộ, hiện đại; bộ máy chính quyền đô thị hoạt động hiệu lực, hiệu quả; chất lượng cuộc sống đô thị ngày càng nâng cao, đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, an toàn và trật tự đô thị; đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đưa Bắc Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I, thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 và vươn tầm thành phố xanh, văn minh, mang đậm bản sắc văn hóa Kinh Bắc vào năm 2045.
Cụ thể hóa định hướng trên, ngày 06/3/2026, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 58/KH-UBND, trong đó đã đề ra 32 nhóm giải pháp nhằm: (1) Nâng cao chất lượng, đổi mới tư duy về công tác quy hoạch đô thị đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị bền vững; (2) Đẩy mạnh phát triển nhà ở, tăng cường quản lý và phát triển thị trường bất động sản; (3) xây dựng, phát triển hệ thống đô thị, chính quyền đô thị, kinh tế đô thị bền vững; (4) Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị bền vững.
Trong giai đoạn tới, Bắc Ninh sẽ kiểm soát chặt chẽ quá trình phát triển đô thị, chú trọng việc phát triển đô thị gắn với nét đặc trưng riêng của từng vùng; hình thành các trung tâm đô thị xanh, thông minh, có tính biểu tượng cao mang tầm Châu Á - Thái Bình Dương. Đồng thời, khuyến khích phát triển các đô thị có tỷ lệ cao về nhà cao tầng, hạ tầng đồng bộ gắn với phát triển thương mại, dịch vụ; ưu tiên phát triển các đô thị tạo động lực thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ logistics, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế thương mại,... theo hướng sinh thái, thông minh, hiện đại. Triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường đô thị; tập trung đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đối với các đô thị chưa có hệ thống xử lý; kết hợp linh hoạt, lựa chọn các hình thức xử lý nước thải (tập trung, cục bộ, tại nguồn) phù hợp với từng đô thị; nghiên cứu triển khai ứng dụng khoa học công nghệ để xử lý nước thải tại nguồn ở các đô thị hiện hữu không thể tách riêng hệ thống thoát nước thải và nước mưa; có cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư các công trình xử lý môi trường khu vực nông thôn, làng nghề, hoàn thành việc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường theo lộ trình, kế hoạch. Nghiên cứu, phát triển đô thị bền vững, có năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu; triển khai các giải pháp chống ngập úng đô thị, sử dụng các loại vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường, có tính thấm cao; khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn nước ngầm, tránh tác động tiêu cực, sụt lún cục bộ.
Song song đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh phát triển hạ tầng số, hạ tầng đô thị thông minh, đô thị xanh phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, bảo đảm nguyên tắc lấy người dân là trung tâm, dữ liệu và hạ tầng thông minh là nền tảng. Tăng cường công tác quản lý trật tự đô thị, trật tự xây dựng tại các đô thị hiện hữu và khu vực đang trong quá trình đô thị hoá; tăng cường vai trò giám sát cộng đồng; tăng cường phân cấp cho các địa phương trong quản lý đô thị phù hợp với điều kiện thực tế. Nâng cao hiệu quả và tính chuyên nghiệp của chính quyền đô thị các cấp.