Trong mọi công trường, “vùng nguy hiểm” không phải là khái niệm chung chung. Đó là những khu vực có thể phát sinh rủi ro đe dọa an toàn con người, tài sản, thiết bị và cả công trình lân cận, đòi hỏi phải được nhận diện, khoanh vùng, có biện pháp bảo đảm an toàn và được kiểm soát nghiêm ngặt. Việc tuân thủ quy định về vùng nguy hiểm là nghĩa vụ pháp lý của chủ đầu tư, các nhà thầu; đồng thời là nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về chất lượng công trình của các cơ quan chuyên môn về xây dựng. Bài viết này hệ thống các quy định hiện hành, phản ánh những tồn tại điển hình qua công tác kiểm tra của Sở Xây dựng và đưa ra kiến nghị nhằm siết chặt kỷ cương an toàn trên công trường, đặc biệt liên quan đến vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng.
Hệ thống quy định của pháp luật về “vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng” và trách nhiệm của các chủ thể
Theo điểm h khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số 62/2020/QH14, “vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng công trình” là giới hạn các khu vực trong và xung quanh công trường xây dựng có thể xuất hiện những yếu tố nguy hiểm gây thiệt hại cho con người, công trình xây dựng, tài sản, thiết bị, phương tiện do quá trình thi công xây dựng công trình gây ra, được xác định theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và biện pháp tổ chức thi công xây dựng công trình. Vùng nguy hiểm trên công trường và khu vực lân cận công trường được xác định tại mục 2.1.1.3 QCVN 18:2021/BXD.
Hình 1: Vùng nguy hiểm trong thi công sử dụng cần trục tháp tại công trình Khu nhà ở xã hội số 02 tại khu số 5, số 9 thuộc KĐT phía Nam, thành phố Bắc Giang
Đối với nhà thầu thi công, trước và trong quá trình triển khai các hoạt động xây dựng trên công trường, nhà thầu thi công phải căn cứ vào điều kiện thực tế, đặc điểm của công trường, công trình và đặc điểm của các loại công việc thi công khác nhau để nhận diện các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại, xác định các vùng nguy hiểm, vùng nguy hại trên công trường và khu vực lân cận công trường. Vùng nguy hiểm phải được kiểm soát để bảo đảm an toàn lao động bằng các biện pháp: (i) Có rào chắn hoặc biện pháp che chắn chắc chắn để ngăn ngừa xâm nhập; (ii) Có các phương tiện cảnh báo, chỉ dẫn cụ thể; (iii) Có người làm nhiệm vụ bảo vệ, cảnh báo và kiểm soát ra, vào. Trách nhiệm xác định vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng của nhà thầu thi công được quy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, nhà thầu thi công phải lập và trình chủ đầu tư phê duyệt biện pháp bảo đảm an toàn khi thi công trong vùng nguy hiểm.
Đối với chủ đầu tư, khi vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng công trình có ảnh hưởng lớn đến an toàn cộng đồng, chủ đầu tư có trách nhiệm báo cáo về biện pháp đảm bảo an toàn đến cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc UBND tỉnh theo lĩnh vực, địa bàn, quy định tại khoản 8 Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP.
Ví dụ: Công trình xây dựng toà nhà chung cư có sử dụng cần trục tháp để cẩu lắp vật liệu, thiết bị, nhà thầu thi công phải xác định vùng nguy hiểm trong thi công trên cơ sở độ cao, tầm với và góc quay của cần trục tháp với kích thước cụ thể theo hướng dẫn tại cột 1, cột 3 Bảng 1 - QCVN 18:2021/BXD (lưu ý: vùng nguy hiểm có phần mở rộng lớn hơn phạm vi đường chu vi ngoài của hình chiếu bằng theo kích thước lớn nhất của vật nâng). Từ phạm vi vùng nguy hiểm đã được xác định, nhà thầu thi công phải lập và trình chủ đầu tư phê duyệt biện pháp bảo đảm an toàn đối với mọi hoạt động (trong và ngoài công trường) trong phạm vi này. Trường hợp phạm vi vùng nguy hiểm có cả ở bên ngoài công trình, ảnh hưởng đến đường giao thông đang sử dụng hoặc công trình lân cận…, chủ đầu tư phải báo cáo Sở Xây dựng về biện pháp đảm bảo an toàn trong thi công xây dựng tại vùng nguy hiểm.
Chế tài xử phạt theo Nghị định 16/2022/NĐ-CP cũng quy định rất rõ: Phạt nhà thầu thi công 40–60 triệu đồng đối với hành vi không xác định vùng nguy hiểm; phạt 30–50 triệu đồng đối với nhà thầu thi công không lập, không trình chủ đầu tư chấp thuận biện pháp đảm bảo an toàn trong vùng nguy hiểm; phạt 40–60 triệu đồng đối với chủ đầu tư không báo cáo về biện pháp đảm bảo an toàn khi có ảnh hưởng lớn đến an toàn cộng đồng. Ngoài ra, tổ chức quản lý dự án, tư vấn giám sát, cá nhân có liên quan cũng có thể bị xem xét xử lý theo mức độ vi phạm.
Hình 2: Một khu vực nguy hiểm (có nguy cơ rơi ngã) nhưng chưa được bố trí biện pháp an toàn
Tình hình thi hành pháp luật về bảo đảm an toàn lao động liên quan đến vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng
Từ kết quả kiểm tra công tác quản lý chất lượng và an toàn thi công tại một số công trình trên địa bàn, Sở Xây dựng nhận thấy việc thực hiện quy định của pháp luật liên quan đến “vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng” của một số chủ đầu tư, nhà thầu thi công còn nhiều thiếu sót, hạn chế, cụ thể:
Việc nhận diện vùng nguy hiểm còn hình thức
Nhiều nhà thầu còn “ngơ ngác” khi lần đầu tiên được nghe đến khái niệm “vùng nguy hiểm trong thi công xây dựng” khi cơ quan quản lý đề cập đến.
Không ít nhà thầu đưa nội dung “vùng nguy hiểm” vào kế hoạch an toàn như một mục “cho có”, nhưng không khoanh định cụ thể trên mặt bằng tổng thể, không thể hiện trên bản vẽ biện pháp hoặc không cập nhật khi biện pháp thi công - mặt bằng thi công thay đổi. Hệ quả là ngoài hiện trường, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân không có mốc nhận biết rõ ràng về khu vực cấm hoặc tạm thời nguy hiểm.
Rào chắn, biển báo thiếu chuẩn hóa
Tình trạng phổ biến là dùng dây nilon, cọc tre tạm bợ, biển tự in không đúng quy cách, thiếu nội dung theo quy định, đặt không đúng vị trí hoặc thiếu chiều cao - khoảng cách an toàn so với vùng nguy hiểm. Khu vực chân công trình hoặc dưới phạm vi hoạt động của cần trục tháp có nguy cơ vật rơi nhưng không xác định đúng phạm vi cần cảnh giới theo QCVN 18:2021/BXD, dẫn đến khoảng cách ngăn cách quá hẹp, tiềm ẩn rủi ro cho người đi lại.
Điều chỉnh biện pháp thi công, việc quản trị những thay đổi chưa kịp thời
Khi chuyển giai đoạn thi công (như từ phần ngầm lên phần thân, dựng giáo – lắp dựng sàn, vận hành máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động), vùng nguy hiểm thay đổi theo. Tuy nhiên, nhiều dự án không cập nhật kịp thời vùng nguy hiểm, phương án rào chắn, lối đi an toàn, đường ra vào, dẫn đến xung đột giao cắt giữa dòng người, vật liệu và thiết bị. Còn tình trạng ra, vào công trường tự do ở các mặt hẻm, lối phụ.
Chưa gắn việc quản lý vùng nguy hiểm với đo đạc - quan trắc
Nhiều hạng mục đào sâu, gần công trình lân cận, hay khu vực có nguy cơ lún - nứt nhưng không lập kế hoạch quan trắc đầy đủ, hoặc quan trắc nhưng không gắn “ngưỡng hành động” để kịp thời mở rộng vùng nguy hiểm khi số liệu vượt ngưỡng. Trong khi đó, Nghị định 06/2021/NĐ-CP yêu cầu nhà thầu thực hiện trắc đạc, quan trắc theo yêu cầu của thiết kế và tạm dừng thi công khi phát hiện nguy cơ mất an toàn.
Chủ đầu tư, tư vấn giám sát chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm
Một số dự án vẫn khoán trắng an toàn cho nhà thầu; công tác giám sát của chủ đầu tư, tư vấn giám sát thiếu chiều sâu, kiểm tra không theo checklist định lượng (bề rộng rào chắn, chiều cao tay vịn, bán kính vùng nguy hiểm dưới cần trục, vùng cấm quanh hố mở…), dẫn đến chấp nhận hiện trường, nghiệm thu công việc khi chưa đạt chuẩn. Trong khi đó, theo Nghị định 06:2021/NĐ-CP, chủ đầu tư chịu trách nhiệm tổ chức quản lý thi công, bao gồm cả an toàn lao động.
Một số chủ đầu tư chưa thực hiện trách nhiệm báo cáo về biện pháp đảm bảo an toàn đến cơ quan chuyên môn về xây dựng khi vùng nguy hiểm có ảnh hưởng lớn đến an toàn cộng đồng.
Vi phạm hành chính về an toàn vẫn lặp lại
Các hành vi vi phạm phổ biến như: Thi công không đúng biện pháp thi công, biện pháp an toàn lao động; không xác định vùng nguy hiểm, không báo cáo cơ quan chuyên môn về xây dựng khi vùng nguy hiểm có ảnh hưởng lớn đến an toàn cộng đồng, không lắp đặt biển báo hoặc biển báo thiếu nội dung,… vẫn bị phát hiện trong các đợt kiểm tra; đây là các hành vi đã được quy định mức phạt và biện pháp khắc phục tại Nghị định 16/2022/NĐ-CP.
Để tăng cường công tác bảo đảm an toàn lao động trong thi công xây dựng nói chung, thực hiện nghiêm các quy định về thi công xây dựng trong vùng nguy hiểm nói riêng, Sở Xây dựng đề nghị các chủ đầu tư, nhà thầu nghiên cứu, thực hiện nhóm giải pháp trọng tâm để đưa quy định về an toàn lao động đi vào thực chất, giảm thiểu tai nạn và kiện toàn kỷ luật công trường.
Hình 3: Lỗ mở, mép sàn trong vùng nguy hiểm được che chắn
Một là, chuẩn hóa bước nhận diện – khoanh vùng nguy hiểm ngay từ hồ sơ biện pháp
- Bắt buộc mỗi gói thầu có bản đồ vùng nguy hiểm trên mặt bằng thi công (cập nhật theo giai đoạn) với: Phạm vi nguy cơ vật rơi theo hình chiếu bằng; vùng cấm dưới phạm vi hoạt động của thiết bị nâng; vùng cấm quanh hố đào, mép sàn; vùng hạn chế gần nguồn điện, khu vực hàn cắt… Việc thể hiện phải kèm kích thước, cao độ, bán kính cụ thể.
- Chuẩn hóa mẫu rào chắn - biển báo theo quy chuẩn; quy định thống nhất màu sắc, kích thước, nội dung (nguy cơ, cấm vào, lối đi an toàn, số liên hệ khẩn cấp), chiều cao tay vịn, khoảng cách đặt so với biên vùng nguy hiểm.
- Ràng buộc hợp đồng: Coi bản đồ vùng nguy hiểm là tài liệu hợp đồng và là tiêu chí nghiệm thu biện pháp trước khi cho phép triển khai ngoài hiện trường.
Hai là, định lượng các tiêu chí đánh giá an toàn
- KPI an toàn: đưa chỉ tiêu khoanh vùng - rào chắn - biển báo (đúng, đủ, còn hiệu lực) thành KPI bắt buộc trong đánh giá tuần của nhà thầu; nếu điểm an toàn dưới ngưỡng, buộc dừng hạng mục và không thanh toán khối lượng phát sinh.
- Checklist định lượng cho ban chỉ huy và tư vấn giám sát: Bán kính cấm dưới cần trục; khoảng lùi rào chắn theo QCVN; kiểm tra “lỗ mở” trên sàn (có nắp, có rào, có biển); kiểm tra lối đi an toàn, chiếu sáng, lối thoát nạn tạm;…
- Cập nhật kịp thời: Khi thay đổi biện pháp, điều chuyển thiết bị, mở hố đào mới, dựng giáo mới… bắt buộc cập nhật bản đồ vùng nguy hiểm và biển báo trong vòng 24 giờ; mọi thay đổi phải ghi nhận trong nhật ký thi công.
Ba là, gắn quan trắc - cảnh báo sớm với điều chỉnh vùng nguy hiểm
Đối với đào sâu gần công trình lân cận, thi công hố móng, nâng kết cấu siêu trường, làm việc trên cao… yêu cầu kế hoạch quan trắc, trắc đạc (độ lún, chuyển vị, rung, nghiêng, lực neo…) với ngưỡng hành động cụ thể. Khi vượt ngưỡng: Cần mở rộng vùng nguy hiểm, dừng việc có nguy cơ cao, triển khai biện pháp chống đỡ theo quy định.
Bốn là, nâng cao vai trò của chủ đầu tư và tư vấn giám sát
- Trên cơ sở quy định về trách nhiệm của chủ đầu tư theo Điều 14 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, chủ đầu tư ban hành quy chế an toàn riêng cho dự án, trong đó quy định trách nhiệm cá nhân đối với việc phê duyệt/kiểm soát bản đồ vùng nguy hiểm; quy định cơ chế dừng thi công khi vi phạm điều kiện an toàn tối thiểu (rào chắn – biển báo, lối đi an toàn, neo giữ, chống đỡ…).
- Tư vấn giám sát phải ghi nhận bằng hình ảnh, vị trí, tọa độ các điểm kiểm tra vùng nguy hiểm để làm căn cứ nghiệm thu và thanh toán.
Năm là, tăng cường chuẩn hóa dữ liệu và chuyển đổi số công tác an toàn
- Ứng dụng cảm biến, camera AI tại cổng công trường để kiểm soát truy cập vùng cấm; cảnh báo ngay khi có người, phương tiện xâm nhập; lưu vết phục vụ xử lý vi phạm hợp đồng.
- Áp dụng biểu mẫu số hóa cho: Bản đồ vùng nguy hiểm, checklist an toàn, nhật ký an toàn, biên bản xử lý vi phạm; lưu trên hệ thống quản lý dự án để truy xuất nhanh khi thanh tra - kiểm tra.
- Khuyến khích ứng dụng mô hình BIM để mô phỏng giai đoạn thi công và quản trị vùng nguy hiểm theo tiến độ; tích hợp mã QR trên biển báo để truy cập nhanh biện pháp, sơ đồ lối thoát nạn, số điện thoại khẩn cấp.
Sáu là, tăng cường xử lý vi phạm song hành với kiểm tra, hướng dẫn
- Đăng tải trên Trang TTĐT của cơ quan chuyên môn về xây dựng các điển hình tốt và vi phạm điển hình; tăng cường kiểm tra, hướng dẫn về xác định vùng nguy hiểm và lập biện pháp bảo đảm an toàn theo QCVN 18:2021/BXD cho các chủ đầu tư, nhà thầu.
- Tăng cường xử lý các hành vi vi phạm về an toàn lao động trong thi công xây dựng, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; chú trọng xử lý nghiêm đối với hành vi vi phạm nhiều lần, tái phạm; kiên quyết chỉ đạo ngừng thi công xây dựng cho đến khi tồn tại, vi phạm được chủ đầu tư tổ chức khắc phục, hoàn thiện.
An toàn không phải là “phần phụ” đi sau chất lượng - tiến độ, mà là điều kiện tiên quyết để mọi dự án về đích. Quy định pháp luật đã rõ ràng: QCVN 18:2021/BXD nêu định nghĩa và cách xác định vùng nguy hiểm; Nghị định 06/2021/NĐ-CP giao trách nhiệm cụ thể cho chủ đầu tư, nhà thầu trong quản lý an toàn; Nghị định 16/2022/NĐ-CP quy định mức xử phạt và biện pháp khắc phục khi vi phạm. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện nghiêm túc, kiểm soát nhất quán từ hồ sơ đến hiện trường, xử lý dứt điểm các vi phạm lặp lại. Khi “vùng nguy hiểm” được nhận diện đúng, khoanh vùng đủ và kiểm soát chặt, chúng ta không chỉ tuân thủ pháp luật mà còn bảo vệ sinh mạng và tài sản - nền tảng của một ngành xây dựng an toàn - kỷ cương - chuyên nghiệp.